Bố là người đàn ông đầu tiên mà con gái yêu quí, có ảnh hưởng lớn đến cả cuộc đời con. Cách ứng xử của bố sẽ tác động không nhỏ đến lăng kính nhìn đời của "công chúa cưng".Vì thế, bạn hãy quan tâm đến những điều dưới đây nhé.Tôn trọng con gái. Trước hết, người cha phải thể hiện thái độ tôn trọng phụ nữ nói chung, mà gần gũi nhất là mẹ của bé. Đây là nguồn động viên, khích lệ rất lớn để con gái phát triển năng lực và hướng chúng đi tìm sự bình đẳng ở những mối quan hệ khác giới khác. Tuy nhiên, tôn trọng con gái không có nghĩa là nuông chiều, thỏa mãn mọi yêu cầu, đòi hỏi khiến con tưởng nó là "cái rốn của vũ trụ".Quan tâm đến con gái. Để có mối quan hệ bố-con gái tốt đẹp, người cha không thể thờ ơ với cuộc sống của con. Khi còn nhỏ, người bố dễ dàng thể hiện sự quan tâm, yêu chiều "cô công chúa" của mình bằng cách chăm sóc, tâm sự với con. Đến tuổi dậy thì và trưởng thành, có nhiều điều con gái sẽ thấy khó nói với bố. Nhưng cha vẫn có thể là người bạn lớn của con gái thông qua việc thường xuyên hỏi han và tư vấn cho con về cách ứng xử bạn bè, học tập, công việc.Ủng hộ những phẩm chất tốt của phụ nữ. Cách người cha nhìn nhận về phụ nữ rất quan trọng trong việc hình thành phẩm chất ở con gái. Nếu họ coi trọng những nét truyền thống thì con gái sẽ có xu hướng phát triển thành cô gái dịu dàng, nhẹ nhàng, ngoan ngoãn, lịch sự, phép tắc. Còn nếu người bố khích lệ con gái bằng những từ như "bản lĩnh, quyết đoán, tự tin" thì chắc chắn con sẽ trở thành một người phụ nữ mạnh mẽ, hiện đại.Tuy nhiên, người cha dung hòa được hai xu hướng này là lý tưởng nhất. Khi ấy, dù tự tin, độc lập nhưng con gái sẽ không ích kỉ mà quên mất nền tảng cho sự thành công của người phụ nữ nói riêng và con người nói chung chính là gia đình.Xây dựng mối quan hệ vợ chồng tốt đẹp. Sự yêu thương và tôn trọng lẫn nhau của vợ chồng bạn sẽ là cầu nối cho con gái đến với ý thức về cuộc sống chung sau này của nó. Đó sẽ là tấm gương tốt để con lạc quan về những mối quan hệ khác giới và cuộc sống gia đình tương lai.Một số người đàn ông bất mãn trong sự nghiệp lại ứng xử tiêu cực với gia đình, đem phiền muộn ngoài xã hội về đổ lên đầu vợ và con cái. Đôi khi, họ có những hành động khó hiểu, lãnh đạm, hoặc nóng nảy, khó chịu khiến con gái cảm thấy có khoảng cách với bố. Hay cũng có người vũ phu, không biết kiềm chế, hay ghen tuông... khiến con gái có xu hướng ghét hoặc tệ hơn là căm thù đàn ông, coi thường hoặc tách biệt khỏi những mối quan hệ khác giới.
Read More
Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014
Thứ tự sinh ảnh hưởng đến cuộc đời bạn như thế nào
Người con cả thường được bố mẹ dành nhiều thời gian quan tâm hơn và có nhiều khả năng trở thành lãnh đạo công ty, trong khi con thứ thường được "thả lỏng" và dễ thành nghệ sĩ hơn.
Thử làm bài trắc nghiệm dưới đây để hiểu thêm về ảnh hưởng của thứ tự sinh đến cuộc sống và tính cách của mình thế nào.
| Ảnh minh họa: Ehow.com. |
1. Thứ tự sinh có thể ảnh hưởng tới lựa chọn công việc của bạn không?
a. Có
b. Không
b. Không
Câu trả lời đúng: Có. Những trẻ là con đầu hay con một nhiều khả năng trở thành bác sĩ hoặc luật sư. Những trẻ là con thứ thường trở thành nghệ sĩ hoặc người làm việc ngoài trời.
Bố mẹ thường bao bọc thái quá cho đứa con đầu hay con một. Vì thế họ có xu hướng giám sát nhiều hơn, căng thẳng hơn. Khi đứa con sau ra đời, bố mẹ có thể thoải mái và để con tự do hơn.
2. Hầu hết các lãnh đạo công ty là:
a. Con đầu
b. Con giữa
c. Con út
d. Con một
b. Con giữa
c. Con út
d. Con một
Câu trả lời đúng: Con đầu. Một khảo sát năm 2007 với lãnh đạo các công ty cho thấy 43% các CEO là con đầu, 33% là con giữa và 23% là con út.
3. Người có nhiều khả năng chơi các môn thể thao tương tác như bóng đá là?
a. Con đầu
b. Con thứ
b. Con thứ
Những người em trai có nhiều khả năng đưa bóng vào lưới hay trượt tuyết, lặn, lái xe đua hay chơi bóng rổ hơn anh trai mình.
Một nghiên cứu về thứ tự sinh và các môn thể thao mạo hiểm với sinh viên đại học cho thấy nam giới là con đầu thường tránh những môn thể thao này. Những người em trai thường liều lĩnh hơn.
4. Lượng thời gian chất lượng bố mẹ dành cho con đầu so với dành cho các con thứ thế nào?
a. Như nhau
b. Ít hơn
c. Nhiều hơn
b. Ít hơn
c. Nhiều hơn
Câu trả lời đúng: Nhiều hơn. Ngay cả khi các bậc cha mẹ cố gắng cân bằng thời gian dành cho các con, hiếm khi họ làm được như vậy. Những đứa trẻ đầu lòng thường nhận được nhiều hơn 3.000 giờ mỗi năm thời gian quan tâm của bố mẹ hơn là các em khi cùng độ tuổi.
5. Khi người mẹ già đi, họ cảm thấy gần gũi với đứa con nào của mình nhất?
a. Con cả
b. Con giữa
c. Con út
b. Con giữa
c. Con út
Câu trả lời đúng: Con út. Những bà mẹ lớn tuổi cho biết họ cảm thấy gần gũi nhất với con út, dù gia đình họ nhiều con hay ít và khoảng cách tuổi giữa các con là bao nhiêu.
Trong một nghiên cứu tương tự, những bà mẹ nói rằng con đầu là người họ muốn tìm đến khi đối mặt với những vấn đề hay một cuộc khủng hoảng cá nhân.
6. Người nào hay tự tạo áp lực cho bản thân nhất?
a. Con một
b. Con đầu
c. Con út
b. Con đầu
c. Con út
Câu trả lời đúng: Con một. Những người con đầu có khuynh hướng cố gắng để ngày càng "hoàn hảo". Nhưng những trẻ không có anh chị em thì dường như có nét tính cách này còn nhiều hơn.
7. Bao nhiêu người có ít nhất một anh trai hay chị gái?
a. 50%
b. 80%
c. 98%
b. 80%
c. 98%
Câu trả lời đúng: b. Rõ ràng thứ tự sinh ảnh hưởng tới chúng ta rất nhiều. Hầu hết chúng ta không phải là con một trong gia đình. Những trẻ sinh cách nhau dưới 2 năm thường dễ xung đột hơn là anh chị em sinh cách nhau hơn 2 năm, các bác sĩ nhi khoa cho hay.
8. Bố mẹ ít gọi cho bác sĩ hơn khi có con thứ hai?
a. Đúng
b. Sai
b. Sai
Câu trả lời đúng: a. Bác sĩ thường nói những người mới làm cha mẹ hay có nhiều câu hỏi, đôi khi là ngớ ngẩn. Thực tế, ai cũng cần học cách chăm sóc một em bé. Và thường, các bậc phụ huynh hỏi ý kiến bác sĩ nhiều hơn khi sinh con đầu. Thời gian giúp họ xây dựng sự tự tin. Sinh những đứa con sau, bố mẹ cũng hình dung ra những vấn đề một bác sĩ có thể giúp và điều họ có thể tự xử lý cho con mình.
Vương Linh (theo WebMd)
Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2014
20, bạn đã được những gì?
Hãy cùng trả lời các câu hỏi sau:
- Những giáo viên mà bạn yêu quý nhất khi còn đi học
- Ba người đã giúp bạn vượt qua những khoảng thời gian khó khăn
- Năm người đã dạy cho bạn những bài học quý giá về cuộc sống
- Một vài người đã cho bạn cảm giác mình là một người đặc biệt và được tôn trọng
- Năm người luôn bên cạnh bạn lúc cần.
Đối với tôi:
- Đó là cô Hằng hồi cấp 1, cô Hương hồi cấp 2, thầy Jame Bond, tôi yêu quý bởi cách dạy, cảm giác học tập thoải mái, vui vẻ,tiếc là chỉ học thầy có 1 năm. thầy Vang cấp 3, k biết nữa, em thấy thầy luôn mỉm cười, 1 chút cảm giác thầy cũng quý mình vậy, thầy Hiến với 1 sự làm việc không mệt mỏi, yêu thương gia đình, học trò, là động lực của bản thân em. cô Xuyến nữa ạ, vô cùng nhiệt tình với các trò. tiếc là em còn lười vì thế chưa trạm trán được với cô nhiều,hì. Cô Hoài nữa ạ, em thích học văn của cô lắm, thích những câu chuyện xen vào các bài học, như những giấc mơ vậy.
- 3 người à:
+ người đầu tiên: bản thân tôi. thực sự cảm ơn, tuy chính bản thân tôi cũng tự tạo ra những khó khăn, suy nghĩ tiêu cực nhưng cũng chính bản thân giúp tôi vượt qua được. Nào hãy vùng dậy, thoát khỏi chuyện này. làm việc đi và mình sẽ vượt qua. Bản thân tôi cũng nhắc tôi lúc nào mệt rồi, lúc nào lười rồi, tiếp tục. và cũng rất hay tự hỏi: thực sự thì bạn trẻ đã làm được gì( có chứ, không ai biết ngoài bản thân mình)
+ Mẹ là người thứ 2: hãy luôn giữ sức khỏe, ăn uống đầy đủ, luôn nghĩ cho tôi. Con yêu mẹ nhất!
+ Người thứ 3: chưa tìm được
- 5 người: ...
- 1 vài người cho tôi ư: người bạn tôi có lỗi hồi cấp 3, mẹ của tôi, em họ tôi, bạn thân tôi...
- 5 người luôn bên cạnh: mình tôi ...
Ôi, no. cuộc đời tôi thật thảm hại, 20 năm sống mà gì cũng trống.
Mục tiêu:
3 người giúp tôi vượt qua: gia đình, chỉ cần mọi người bình an, em sẽ vượt qua mọi thử thách.
5 người/5 bài học mình được dạy về cuộc sống:...
cảm giác đặc biệt với 1 vài người nào đó: ...
5 người luôn bên bạn khi bạn cần: ...
vậy: mình đã ảnh hưởng tới ai chưa. đã làm cho ai đó thấy họ đặc biệt k. đã chia sẻ được bài học gì. có sẵn sàng giúp họ vượt khó khăn khi bạn cần. có quay lưng lại với họ không?
Sắp 20 rồi, tôi quyết tâm làm nhé!
Read More
- Những giáo viên mà bạn yêu quý nhất khi còn đi học
- Ba người đã giúp bạn vượt qua những khoảng thời gian khó khăn
- Năm người đã dạy cho bạn những bài học quý giá về cuộc sống
- Một vài người đã cho bạn cảm giác mình là một người đặc biệt và được tôn trọng
- Năm người luôn bên cạnh bạn lúc cần.
Đối với tôi:
- Đó là cô Hằng hồi cấp 1, cô Hương hồi cấp 2, thầy Jame Bond, tôi yêu quý bởi cách dạy, cảm giác học tập thoải mái, vui vẻ,tiếc là chỉ học thầy có 1 năm. thầy Vang cấp 3, k biết nữa, em thấy thầy luôn mỉm cười, 1 chút cảm giác thầy cũng quý mình vậy, thầy Hiến với 1 sự làm việc không mệt mỏi, yêu thương gia đình, học trò, là động lực của bản thân em. cô Xuyến nữa ạ, vô cùng nhiệt tình với các trò. tiếc là em còn lười vì thế chưa trạm trán được với cô nhiều,hì. Cô Hoài nữa ạ, em thích học văn của cô lắm, thích những câu chuyện xen vào các bài học, như những giấc mơ vậy.
- 3 người à:
+ người đầu tiên: bản thân tôi. thực sự cảm ơn, tuy chính bản thân tôi cũng tự tạo ra những khó khăn, suy nghĩ tiêu cực nhưng cũng chính bản thân giúp tôi vượt qua được. Nào hãy vùng dậy, thoát khỏi chuyện này. làm việc đi và mình sẽ vượt qua. Bản thân tôi cũng nhắc tôi lúc nào mệt rồi, lúc nào lười rồi, tiếp tục. và cũng rất hay tự hỏi: thực sự thì bạn trẻ đã làm được gì( có chứ, không ai biết ngoài bản thân mình)
+ Mẹ là người thứ 2: hãy luôn giữ sức khỏe, ăn uống đầy đủ, luôn nghĩ cho tôi. Con yêu mẹ nhất!
+ Người thứ 3: chưa tìm được
- 5 người: ...
- 1 vài người cho tôi ư: người bạn tôi có lỗi hồi cấp 3, mẹ của tôi, em họ tôi, bạn thân tôi...
- 5 người luôn bên cạnh: mình tôi ...
Ôi, no. cuộc đời tôi thật thảm hại, 20 năm sống mà gì cũng trống.
Mục tiêu:
3 người giúp tôi vượt qua: gia đình, chỉ cần mọi người bình an, em sẽ vượt qua mọi thử thách.
5 người/5 bài học mình được dạy về cuộc sống:...
cảm giác đặc biệt với 1 vài người nào đó: ...
5 người luôn bên bạn khi bạn cần: ...
vậy: mình đã ảnh hưởng tới ai chưa. đã làm cho ai đó thấy họ đặc biệt k. đã chia sẻ được bài học gì. có sẵn sàng giúp họ vượt khó khăn khi bạn cần. có quay lưng lại với họ không?
Sắp 20 rồi, tôi quyết tâm làm nhé!
Lý thuyết về động lực và tạo động lực cho người lao động
Động lực và các yếu tố tạo động lực.
1. Các khái niệm về động lực và tạo động lực.
a: Động lực trong lao động.
Khái niệm
Trong giai đoan hiện nay nguồn nhân lực của tổ chức đóng vai trò hết sức quan trọng, đó là nhân tố quyết định nên sự thành bại trong kinh doanh của tổ chức. Vấn đề tạo động lực trong lao động là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân sự trong doanh nghiệp, nó thúc đẩy người lao động hăng say làm viậc nâng cao nắng suất lao động.
Có nhiều những quan niệm khác nhau về tạo động lực trong lao động nhưng đều có những điểm chung cơ bản nhất.
Theo giáo trình QTNL của ThS.Nguyễn Vân Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nao đó”
Theo giáo trình hành vi tổ chức của TS Bùi Anh Tuấn “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lưc, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”.
Suy cho cùng động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động mà ra. Như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tao ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức.
b: Bản chất của động lực lao động.
Từ những quan điểm về động lực trong lao động ở trên ta nhận thấy được động lực lao động có những bản chất sau.
Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thai độ của họ đối với tổ chức. điều này có nghĩa không có động lực lao động chung cho mọi lao động. Mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực lao động được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể.
Động lực lao động không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực lao động chưa chắc đã còn trong họ.
Động lực lao động mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vao bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc. Khi được làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thể đạt được năng suất lao động tốt nhất.
Động lực lao động đóng vai trò quan trọng trong sự tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi. Động lực lao động như một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đẩy họ lao động hăng say hơn. Tuy nhiên động lực lao động chỉ là nguồn gốc để tăng năng suất lao dộng chứ không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động bởi vì điều này còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng của người lao động, vào trình độ khoa học công nghệ của dây chuyền sản xuất.
Tạo động lực trong lao động.
Để có được động lực cho người lao động làm việc thì phải tìm cách tạo ra được động lực đó. Như vậy “Tạo động lực trong lao động là hệ thống các chính sách, các biện pháp các thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có được động lực để làm việc”.
Để có thể tạo được động lực cho người lao động cần phải tìm hiểu được người lao động làm việc nhằm đạt được mục tiêu gì từ đó thúc đảy động cơ lao động của họ tạo động lực cho lao động.
c: Hệ thống các mục tiêu chính của người lao động
Mục tiêu thu nhập đây là mục tiêu quan trọng nhất khiến người lao động làm việc bởi vì thu nhập giúp người lao động trang trải cuộc sống của bản thân họ và gia đình, đảm bảo cho sự sống và phát triển.
Mục tiêu phát triển cá nhân: đây là mục tiêu ma người lao động mong muốn tự lam hoàn thiện mình thông qua các hoạt động đào tạo, phát triển, các hoạt động văn hóa xã hội. Mục tiêu này được nâng cao, chú trọng hơn khi người lao động đã có đủ thu nhập để đảm bảo cuộc sống.
Mục tiêu thỏa mãn các hoạt động xã hội là nhu cầu được tham gia vao các hoạt động xã hội để tự khẳng định mình. Khi hai mục tiêu trên đã được đáp ứng nhu cầu thỏa mãn các hoạt động xã hội được người lao động chú trong quan tam hơn.
Như vậy tạo động lực lao động chính là sử dụng những biện pháp kích thích người lao động làm việc bằng cách tạo cho họ cơ hội thực hiện được những mục tiêu của mình.
2. Các yếu tố tạo động lực trong lao động
a: Các yêu tố thuộc về bản thân người lao động.
- Hệ thống nhu cầu của người lao động.
Nhu cầu về vật chất: là những nhu cầu cơ bản nhất đảm bảo cuộc sống của mỗi con người như ăn, mặc, đi lại, chỗ ở …Đây là nhu cầu chính và cũng là động lực chính khiến người lao động phải làm việc. Cuộc sống ngày càng được nâng cao nhu cầu của con người cũng thay đổi chuyển dần từ nhu cầu về lượng sang nhu cầu về chất.
Nhu cầu về tinh thần: là những nhu cầu đòi hỏi con người đáp ứng được những điều kiện để tồn tại và phát triển về mặt trí lực. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về các giá trị tinh thần cũng nâng cao nó bao gồm.
+ Nhu cầu học tập để nâng cao trình độ.
+ Nhu cầu thẩm mỹ và giao tiếp xã hội.
+ Nhu cầu công bằng xã hội.
Nhu cầu vật chất và tinh thần của con người có quan hệ biên chứng với nhau điều đó bắt nguồn từ mối quan hệ vật chất- ý thức. Đây là hai nhu cầu chính và cũng là cơ sở để thực hiện tạo đọng lực cho lao động.
- Các giá trị thuộc về cá nhân người lao động.
+ Năng lực thực tế của người lao động: là tất cả những kiến thức, kinh nghiêm mà người lao động đã đúc kết được trong suốt quá trinh học tập và lao động. Mỗi người lao động có những khả năng riêng nên động khiến họ làm việc tích cực hơn cũng khác nhau, khi họ có đầy đủ điều kiện để phát huy khả năng của mình thì động lực lao động sẽ tăng lên.
+ Tính cách cá nhân của mỗi người lao động: Đây là yếu tố cá nhân bên trong mỗi con người và được thể hiện qua quan điểm của họ trước một sự việc, sự kiện nào đó. Quan điểm của người lao động có thể mang tính tích cực hoạc tiêu cực do vậy tạo động lực cho người lao động còn chịu một phần ảnh hưởng từ tính cách của họ.
- Các yếu tố bên trong công việc: Các yếu tố phụ thuộc vào bản chất công việc mà người lao động đang làm.
Đó là sự phù hợp giữa khả năng làm việc với trình độ của người lao động, khi người lao động cảm thấy công việc đang làm là phù hợp với mình họ sẽ tích cực lao động để đạt được mục tiêu của mình ngược lại khi công việc không phù hợp người lao đọng dễ dẫn đến tình trạng chán nản, không tập trung vào công việc.
- Các yếu tố thuộc môi trường quản lý.
Tất cả những công tác quản lý trong tổ chức đề có những ảnh hưởng nhất định tới động lực làm việc của người lao động, cụ thể.
+ Điều kiện và chế độ thời gian lao động: đây là yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ tới động lực lao động, khi điều kiện lao động thuận lợi, môi trường lam việc đảm bảo an toàn, vệ sinh người lao động sẽ yêu thích công việc hơn, làm việc tốt hơn.
+ Tổ chức phục vụ nơi làm việc: Là sự sắp xếp, bố tri công việc phục vụ cho người lao động đảm bảo môi trường làm việc tốt nhất để người lao động phát huy một cách tối đa mọi khả năng của bản thân. Tạo điều kiện để quá trình sản xuất được liên tục nhịp nhàng.
+ Thù lao lao động: Là số tiền mà tổ chức trả cho người lao động vì những gì họ đã phục vụ. Khi người lao động cảm thấy thu nhập nhận được là tương xứng với công sức họ bỏ ra thì người lao động sẽ co động lực để làm việc phục vụ tổ chức. Thù lao lao độngkhông công bằng sẽ có ảnh hưởng xấu tới động lực lao động vì khi đó họ cho rằng minh đang bi đối xử không công bằng. Vì vậy người quản lý cần phải thực hiện công tác thù lao lao động một cách hợp lý nhất tạo tam lý thoải mái và tinh thần đoàn kết tập thể.
+ Đánh giá kết quả làm việc: là một hoạt động quản lý nguồn nhân lực quan trọng và luôn tồn tại trong mọi tổ chức. Hoạt đọng đánh giá kết quả làm việc xác định mức lao động mà người lao động đã thực hiên được để xét các mức khen thưởng hoặc kỷ luật đồng thời qua công tác đánh giá cũng xem xét được năng lực, thành tích và triển vọng của từng lao động từ đó đưa ra các quyết định nhân sự có liên quan. Kết quả đánh giá cũng có ảnh hưởng đến tâm lý tình cảm của từng người nên nếu đánh giá không chính xác co thể dẫn đến hậu quả không mong muốn.
+ Kỷ luật lao động: Là những tiêu chuẩn quy định những hành vi cá nhân của người lao động mà tổ chức xây dựng nên dựa trên cơ sở pháp lý hiện hành và các chuẩn mực đạo đức xã hội. Khi thực hiện kỷ luật lao động người quản lý nên tránh tình trạng xử lý mang tính cá nhân gây bất bình cho người lao động.
+ Công tác đào tạo cho lao động: là các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức. Do vậy trong các tổ chức công tác đào tạo phát triển cần được thực hiện một cách bài bản có kế hoạch rõ ràng, đối tượng được đào tạo cũng phải chon lựa kỹ lưỡng tránh trường hợp đào tạo sai tay nghề chuyên môn. Người lao động luôn muốn học tập nâng cao trình độ, tay nghề đáp ứng sản xuất, khi chính sách đào tạo hợp lý sẽ tao được động lực cho họ lam việc.
+ Văn hóa trong tổ chức: là toàn bầu văn hóa ứng xử, giao tiếp trong tổ chức. Nơi nào có được bầu không khí văn hóa tốt sẽ có được tinh thần đoàn kết cao, thực hiện công viêc dễ dàng hơn,làm việc với tinh thần hăng say vui vẻ, cán bộ công nhân viên biết quan tâm tới nhau cả trong công việc và trong cuộc sống. Ngược lại dù điều kiện cơ sở vật chất có cao, khen thưỏng, lương bổng có tốt tới mấy cũng sẽ gây chán nản cho người lao động.
3. Một số học thuyết tạo động lực trong lao động.
Có nhiều học thuyết khác nhau về tạo động lực và được tiếp cận dưới nhiều hình thức riêng. Tuy nhiên các học thuyết cùng có chung một kết luận là việc nâng cao động lực cho người lao động sẽ dẫn tới tăng năng suất lao động và thắng lợi hơn của tổ chức.
a: Học thuyết nhu cầu của maslow.
Maslow cho rằng con người có nhiều nhu cầu mong muốn được thỏa mãn và được sắp xếp theo thứ tự nhất định. Theo ông con người có năm nhu cầu cần được thỏa mãn và được sắp xếp theo thứ tự thỏa mãn từng nhu cầu. Học thuyết của Maslow cho rằng khi mỗi một nhu cầu trong số các nhu cầu trên được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng hơn. Sự thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân sẽ di theo thứ bậc như trên và mặc dù không có nhu cầu nào được thỏa mãn hoàn toàn nhưng một nhu cầu đã được thỏa mãn thì không còn tạo ra động lực được nữa. Do vậy Maslow cho rằng để tạo ra được động lực cho nhân viên người quản lý cần phải hiểu nhân viên đó đang nằm trong thứ bậc nào của nhu cầu.
b: Học thuyết hai yếu tố của Herzberg.
Herzberg đưa ra lý thuyết hai yếu tố về sự thỏa mãn trong công việc và tạo động lực, ông chia các yếu tố thành 2 nhóm như sau.
Nhóm 1 bao gồm các yếu tố then chốt để tạo động lực và sự thỏa mãn trong công việc như sau.
- Sự thành đạt.
- Sự thừa nhận thành tích.
- Bản chất bên trong công việc.
- Trách nhiệm lao động.
- Sự thăng tiến.
Đó là các yếu tố thuộc về công việc và về nhu cầu bản thân của người lao động. Khi các nhu cầu này được thỏa mãn thì sẽ tạo được động lưc cho người lao động.
Nhóm 2 bao gồm các yếu tố thuộc về môi trường tổ chức.
- Các chế độ và chính sách quản trị của công ty.
- Sự giám sát công việc.
- Tiền lương.
- Các mối quan hệ con người trong tổ chức.
- Các điều kiện làm việc.
Học thuyết này đã chỉ ra hàng loạt nhưng yếu tố tác động tới tạo động lực và sự thỏa mãn nhu cầu của người lao động, đồng thời cũng gây được ảnh hưởng cơ bản tới thiết kế và thiết kế lại ở nhiều công ty.
c: Học thuyết kỳ vọng của Victor Vrom.
Học thuyết kỳ vọng của Victor Vrom nhấn mạnh mối quan hệ nhận thức. Theo học thuyết này một sự nỗ lực nhâts định sẽ dẫn tới một thành tích nhất định và thành tích đó sẽ dẫn tới một kết quả hoặc phần thưởng như mong muốn. Chính vì thế theo ông các nhà quản lý cần phải làm cho người lao động hiểu được mối quan hệ trực tiếp giữa nỗ lực- thành tích, thành tích- kết quả/ phần thưởng.
d: Học thuyết công bằng của J Stacy Adam.
J Stacy Adam đề cập tới vấn đề nhận thức của người lao động về mức độ đối xử công bằng và đúng đắn trong tổ chức. Các cá nhân trong tổ chức có xu hướng so sánh sự đóng góp của họ và các quyền lợi họ được hưởng với người khác. Người lao động sẽ cảm nhận được sự công bằng nếu:
hư vậy theo J Stacy Adam để tạo ra được động lực cho lao động, nhà quản lý phải tạo được sự cân bằng giưa những đóng góp và quyền lợi mà các cá nhân nhận được.
4. Các phương pháp tạo động lực trong lao động.
Để tạo được động lực cho người lao động, người quản lý cần phải có những kế hoạch, phương hướng thực hiện một cách rõ ràng, chủ yếu tập trung vào một số nội dung chính sau.
Xây dựng định mức lao động, nhiệm vụ và tiêu chuẩn thực hiện công việc cho từng người lao động.
Để phát huy sức mạnh tập thể và tinh thần làm việc hăng say, nhà quản lý cũng nên xây dựng mục tiêu và nhiệm vụ cho đội ngũ nhân viên. Một trong những cách này là đưa ra mục tiêu sống còn, quan trọng mà công ty cần vượt qua, chẳng hạn như tăng doanh số so với năm ngoái, hay vượt qua thị phần của một công ty cạnh tranh… Nếu nhà quản lý biết cách, chắc chắn nhân viên sẽ liên kết lại và "xả thân" vì màu cờ sắc áo của công ty mình. Những nhiệm vụ cần phải thực hiện đó là: - Xác định rõ mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, phổ biến các mục tiêu đến từng lao động và làm cho người lao động hiểu rõ mục tiêu đó.
- Xác định mục tiêu cụ thể và các định mức, tiêu chuẩn thực hiện công việc cho người lao động, nhân viên phải được giao quyền và được có trách nhiệm. Rủi ro do những quyết định của nhân viên được giao quyền sẽ rất nhỏ khi chúng ta đã có một chương trình huấn luyện, kèm cặp tốt.
- Đánh giá thương xuyên và công bằng mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người lao động qua đó giúp người lao động điều chỉnh những hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu của tổ chức từ đó giúp họ làm việc tốt hơn.
Tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động hoàn thành nhiệm vụ.
Nhiệm vụ của người lãnh đạo là phải tạo điều kiện thuân lợi trong công việc giúp cho nhân viên nhận thấy rằng, công việc mà họ đang làm hợp với chuyên môn, kỹ năng của mình, cũng như có thể giúp họ phát triển về nghề nghiệp và tương lai. Song song đó là làm cho nhân viên cảm nhận mình là một phần tử quan trọng của công ty. Người lãnh đạo nên "kéo" tất cả nhân viên của mình vào mọi hoạt động quan trọng của công ty. Khi đó họ sẽ yêu công ty và làm việc hăng say hơn. Các bước thực hiện như sau:
- Phân công bố trí lao động một cách hợp lý đảm bảo ”đúng người đúng việc” tranh tình trạng làm trai ngành trái nghề gây khó khăn trong công việc cho người lao động.
- Cung cấp đầy đủ, kịp thời các điều kiện cần thiết phục vụ cho công việc. thiết kế lại công việc để người lao động cảm thây công việc của mình có nhiều thú vị giúp họ hăng say hơn trong công việc.
- Loại trừ các trở ngại trong khi thực hiện công việc của từng người lao động.
Kích thích vật chất, tinh thần cho người lao động.
Trong mỗi bản thân con người đều tồn tại hai mặt sinh học và xã hội, sự phát triển của con người gắn liền với sự phát triển của hai mặt này. Vì thế muốn thúc đẩy sự phát triển của con người thì cần phải có sự kích thích về cả hai mặt này để tạo ra đươc một sứ mạnh tổng hợp, cụ thể: Kích thích vật chất nhằm tác động vào mặt sinh học, kích thích tinh thần nhằm tác động vào mặt xã hội. Nhu cầu của con người là vô hạn, tổ chức không thể đáp ứng tất cả những nhu cầu của họ song khả năng của con người cũng là vô hạn. Do đó các nhà quản lý phải có những chính sách cụ thể tạo động lực cho người lao động để họ có thể cống hiến hết khả năng của bản thân.
- Kích thích bằng vật chất
Tạo động lực lao động thông qua tiền lương.
“Tiền lương là một khoản tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động sau khi đã hoàn thành những công việc nhất định”. Như vậy tiền lương là một trong những công cụ đắc lực, là động cơ thúc đẩy con người làm việc. Tiền lương mà người lao động được trả phải đảm bảo phản ánh đúng sự đóng góp của người lao động và được những nhu cầu cần thiết cơ bản trong cuộc sống của họ thì người lao động mới phát huy được tài năng của mình, thúc đẩy được động lực lao động.
Tuy vậy không phải tổ chức nào cũng phải trả một mưc lương thật cao cho người lao động để có được động lực vì điều này còn phụ thuộc vào khả năng chi trả và ý muốn chi trả của tổ chức. Do đó để nâng cao vai trò kích thích lao động thông qua tiền lương cần phải xác định đúng đắn mối quan hệ giữa tiền lương với sự cống hiến của người lao động. Công tác trả lương cho lao động phải đảm bảo được những yêu cầu và nguyên tắc cỏ bản để có thể tạo được động lực cho người lao động làm việc.
- Tạo động lực lao động thông qua tiền thưởng.
“ Tiền thưởng là một trong những công cụ đãi ngộ quan trọng trong việc tao động lực cho lao động, làm tăng thêm thu nhập cho lao động khuyến khích họ lam việc hăng say hơn”. Khi họ đạt được thành tích, nhà quản lý phải biết cách khen thưởng kịp thời. Việc quan trọng này phải được làm thường xuyên chứ không phải đợi đến cuối năm. Chẳng hạn như việc bầu chọn nhân viên xuất sắc, nhân viên có nhiều sáng kiến, nhân viên phục vụ khách hàng tốt nhất, nhân viên bán hàng giỏi nhất... có thể tiến hành hàng tháng hay hàng quý.
Việc bầu chọn phải hết sức công bằng, hợp lý. Việc tiến hành công nhận hay trao giải thưởng phải trang trọng. Thông tin khen thưởng phải được công bố rộng rãi cho mọi nhân viên, đối tác và đặc biệt là gia đình của người được khen thưởng.
Nhà quản lý cũng nên chú ý công nhận và khen thưởng những nhân viên không nằm trong danh sách những nhân viên xuất sắc, nhưng luôn làm tốt công việc, và gắn bó với công ty. Được sếp khen, nhất là khen trước mặt mọi người, về những thành tích của mình là một trong những liều thuốc "sung" hiệu lực nhất.
Kích thích về tinh thần cho người lao động
- Tạo vị tri ổn định cho người lao động làm việc.
Mỗi người lao động đều mong muốn có được công việc ổn định, nó xuất phát từ nhu cầu ổn định cuộc sống của con người. Ngoài ra con người luôn muốn phat triển mọi khả năng của bản thân, được học hỏi, được thể hiên bản thân mình.
Thực tế cho thấy khi người lao động có được công việc ổn định thì tâm lý của họ sẽ ổn định hơn mưcs độ tập trung trong công việc cao hơn. Co xu hướng phấn đấu mạnh mẽ hơn để đạt thành tích cao trong lao động. Do đó người quản lý cần phải tạo cho người lao động một tâm lý ổn định trong công việc, tạo được lòng tin từ người lao động giúp họ gắn bó hơn với công việc của mình và với tổ chức.
Xây dựng bầu không khí lành mạnh, đầm ấm trong công ty.
Bầu không khí xã hội trong công ty được biểu hiện trong những giao tiếp xã hội thường ngày giữa những người lao động đối nới các mối quan hệ xã hội, đối với lãnh đạo, đối với công việc.
Kích thích lao động là tạo ra sự thôi thúc bên trong của con người đến với lao động, sự thôi thúc đó được tạo ra dựa trên một tác động khách quan nào đó lên ý thức. Do đó, khi kích thích bất cứ hoạt động lao động nào, người ta phải chú ý đến các yếu tố tâm lý như mục đích công việc, nhu cầu, hứng thú, động cơ làm việc của mỗi cá nhân và hàng loạt các đặc điểm tâm lý cá nhân cũng như tập thể, từ đó mới có thể hình thành được biện pháp kích thích hữu hiệu
- Tổ chức công tác đào tạo nâng cao tay nghề, đào tạo mới.
Ngày nay khoa học công nghệ phát triển con người ngày càng phải tiếp xúc với những công việc đòi hỏi trình độ cao. Do đó họ có nhu cầu hoc tập để không ngừng nâng cao trình độ, đáp ứng kíp thời khi công nghệ thay đổi.
Các nhà quản lý cần phải chú trọng công tác đào tạo phát triển để duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tuy nhiên công tác đào tạo phải được thực hiện một cách co quy củ mới có thể đạt được hiệu quả tốt nhất. Công tác đào tạo thể hiện được sự quan tâm của tổ chức tới nhân viên từ đó tạo được niềm tin gắn kết người lao động với tổ chức, tạo cho họ động lực để phát huy khả năng của mình để phục vụ cho tổ chức đồng thời cũng tạo điều kiện để áp dụng những tiến bộ kỹ thuật và quản lý vao tổ chức.
Tổ chức các phong trào thi đua, lập thành tích.
Các tổ chức tạo ra phong trào thi đua trong lao động để tạo sự phấn đấu nâng cao năng suất của người lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu, nâng cao hiệu quả kinh tế. Người lao động sẽ phấn đấu lao động để đạt hoặc vượt mục tiêu đề ra khi đó tổ chức sẽ có những khen thưởng, động viên cụ thể. Người lao động sẽ so sánh khả năng, năng lực của minh với đồng nghiệp chính vì thế tạo nên sự ganh đua trong lao động, kích thích tri tuệ của họ.
Người quản lý cần tạo được những phong trào thi đua đúng đắn phù hợp tạo tinh thần trách nhiệm, sự hứng thú, đòi hỏi sự phấn đấu, cạnh tranh trong lao động. Đi đôi với điều đó là những khen thưởng cụ thể động viên họ, tạo cho họ cảm giác được cấp trên quan tâm, hoan thành tốt công việc và có được cơ hội thăng tiến. Ngoài ra nếu như có điều kiện doanh nghiệp nên thành lập các câu lạc bộ thể thao, các tiểu tổ văn hoá, xây dựng các trung tâm thể dục lớn, các phòng tập thể dục và các biệt thự ở các khu nghỉ mát để viên chức nghỉ ngơi và giải trí cùng nhau. Các quan hệ cá nhân tốt được hình thành và củng cố thông qua những hoạt động tập thể này.
5. Sự cần thiết phải tạo động lực trong lao động.
Đối với cá nhân người lao động.
Con người luôn có những nhu cầu cần được thỏa mãn về cả hai mặt vật chất và tinh thần. Khi người lao động cảm thấy những nhu cầ của mình được đáp ứng sẽ tạo tâm lý tốt thúc đẩy người lao động làm việc hăng say hơn. Đối với cá nhân người lao động không có động lực lao động thì hoạt động lao động khó có thể đạt được mục tiêu của nó bởi vì khi đó họ chỉ lao động hoàn thành công việc được giao mà không có được sự sáng tạo hay cố gắng phấn đấu trong lao động, họ chỉ coi công việc đang làm như một nghĩa vụ phai thực hiện theo hợp đồng lao động mà thôi. Do đó nhà quản lý cần phải tạo được động lực thúc đẩy tính sáng tạo và năng lực làm việc của nhân viên.
Người lao động chỉ hoạt động tích cực khi mà họ được thỏa mãn một cách tương đối những nhu cầu của bản thân. Điều này thể hiện ở lợi ích mà họ được hưởng. Khi mà người lao động cảm thấy lợi ích mà họ nhận được không tương xứng với những gì họ bỏ ra họ cảm thấy không thỏa mãn được những nhu cầu của mình thì sẽ gây ra cảm giác chán nản làm việc không tập trung cao. Lợi ích là phương tiện để thỏa mãn nhu cầu nên lợi ích mà người lao động nhân được phải tương xứng với những gì họ cống hiến thì mới tạo ra động lực cho họ làm việc.
Động lực lao động còn giúp cho người lao động có thể tự hoàn thiện mình. Khi có được động lực trong lao động người lao động có được nỗ lực lớn hơn để lao động học hỏi, đúc kết được những kinh nghiệm trong công việc, nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện mình. Nếu không có động lực
Đối với doanh nghiệp.
Hiện nay nước ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Kinh nghiệm của Nhật Bản và các “con rồng Châu Á” cho thấy phải tiến ra con đường đi riêng phù hợp với đặc điểm chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội Việt Nam. Đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn vì phải đuổi kịp trình độ khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới trong một thời gian ngắn với điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu và thiếu vốn đầu tư. Một trong những giải pháp tình thế là tăng năng suất lao động để có thể tạo ra lợi nhuận cao hơn trên cơ sở trang thiết bị và vốn sẵn có, do đó có tốc độ tích luỹ vốn nhanh hơn. Vì lý do nêu trên, vấn đề kích thích lao động hiện đang là mối quan tâm của nhiều nhà lãnh đạo và quản lý. Mặt khác, khi vấn đề vốn đầu tư và trang thiết bị đã được giải quyết thì tăng năng suất và kích thích lao động sáng tạo vẫn là vấn đề bức xúc cần đầu tư giải quyết thích đáng để doanh nghiệp và các cơ quan nghiên cứu nói riêng cũng như nền kinh tế nói chung có thể phát triển nhanh và có hiệu quả.Kích thích lao động là tạo ra sự thôi thúc bên trong của con người đến với lao động, sự thôi thúc đó được tạo ra dựa trên một tác động khách quan nào đó lên ý thức. Do đó, khi kích thích bất cứ hoạt động lao động nào, người ta phải chú ý đến các yếu tố tâm lý như mục đích công việc, nhu cầu, hứng thú, động cơ làm việc của mỗi cá nhân và hàng loạt các đặc điểm tâm lý cá nhân cũng như tập thể khác, từ đó mới có thể hình thành được biện pháp kích thích hữu hiệu. Có thể kích thích lao động bằng vật chất, bằng giao tiếp hoặc băng cách thoả mãn các nhu cầu khác của con người tạo ảnh hưởng đến hành vi, cụ thể là nó có thể định hướng, điều chỉnh hành vi của cá nhân. Tạo động lực kích thích lao động làm việc có tác dụng :
- Tạo sự gắn kêt giữa lao động với tổ chức giữ được nhân viên giỏi, dảm được tỉ lệ nghỉ việc.
- Tăng mức độ hài lòng, niềm tin, sự gắn bó và tận tụy của các nhân viên trong doanh nghiệp.
- Dảm thời gian, chi phí tuyển và đào tạo nhân viên mới.
- Tăng năng suất lao động, hiệu quả sử dụng lao động.
- Là nền tảng để tăng doanh số, cải thiện lợi nhuận.
theo Nhân viên mới
Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2014
THĂM QUAN DI TÍCH CỐ ĐÔ KYOTO CỦA NHẬT BẢN
Kyoto - là thành phố cổ kính đúng nghĩa, nơi đây không có các tòa nhà chọc trời, những công trình hiện đại. Bù lại, cố đô lại là nơi cất giữ nhiều di tích lịch sử, văn hóa cả về vật chất và tinh thần (phi vật thể ).
Từ khi trở thành thủ đô của Nhật Bản, sau đó được gọi là Heian-Kyo, vào năm 794, Kyoto đã là thủ đô của nước Nhật hơn 1000 năm, và là nơi văn hóa Nhật Bản phát triển rực rỡ. Ở Kyoto, có rất nhiều các ngôi chùa Phật giáo và đền thờ của đạo Shinto được xây dựng ở trong thành phố và các khu vực lân cận, dưới thời cai trị của nhiều vị Vua và Tướng quân (Shogun) và vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay. Tất cả những ngôi đền và chùa cổ kính này đều thể hiện các nét đặc sắc của văn hóa, chính trị của các thời đã trải qua. Chính vì vậy mà Kyoto có thể được ví như là một viện bảo tàng lịch sử của người Nhật.
Vào khoảng cuối thế kỉ thứ 12, khi mà thời các Tướng quân bắt đầu có quyền lực. Thêm vào từ nên văn hóa quý tộc và Phật giáo được truyền từ Trung Quốc sang, văn hóa Tướng quân (Shogun) cũng bắt đầu có ảnh hưởng và cả ba nền văn hóa trên đều được cùng tồn tại và tác động lẫn nhau. Nhất là vào khoảng thế kỉ 14-15, dưới sự cai trị của các Tướng quân, nền văn hóa của họ đã phản ánh sâu sắc thành sự tôn thờ văn hóa quý tộc và ảnh hưởng của Thiền từ Phật giáo nữa. Thời kì văn hóa rực rỡ này có thể tìm thấy từ dấu tích của các ngôi đền Thiền được xây dựng từ thời này, và các ngôi biệt thự và vườn cây của các Tướng quân.
Kyoto đã có thời gian khoảng 10 năm, bắt đầu từ 1467 xảy ra chiến tranh, và thành phố thủ đô đã bị tàn phá, và nhiều tài sản văn hóa ở trung tâm thành phố đã bị phá hủy. Vào cuối thế kỉ 16, khi nền chính trị đã trở lại ổn định, nhiều ngôi đền, chùa đã được xây dựng lại. Tuy nhiên nền văn hóa Tướng quân của thời kì này cũng bị ảnh hưởng của nền văn hóa quốc tế do những nhà buôn mang đến.
Trong thời Edo (1603-1868), phần lớn trung tâm quyền lực đã được chuyển về Edo (ngày nay gọi là Tokyo). Trong thời gian này, nhiều ngôi đền lớn nhỏ đã được xây dựng ở khắp nơi ở Nhật Bản, trong đó nhiều ngôi đền lớn nằm ở Kyoto. Có rất nhiều người từ các tỉnh đã về Kyoto, tìm đến các ngôi đền lớn để cầu cúng. Chính vì lẽ đó mà Kyoto đã rất phát triển như một trung tâm của sự tín ngưỡng và du lịch vào thời đó.
Vào năm 1868, chính phủ chính thức chuyển từ Kyoto đến Tokyo. Dưới ảnh hưởng của nền văn hóa hiện đại phương Tây, có rất nhiều chính sách hiện đại hóa đất nước Phù tang đã được ban hành, và biến Kyoto trở thành một thành phố hiện đại. Tuy vậy, chính quyền và người dân ở Kyoto luôn luôn có những sự quan tâm đặc biệt đến giữ gìn, bảo tồn những di sản văn hóa lịch sử lâu đời của Kyoto. Nhiều tài sản kiến trúc đã được công nhận là Tài sản quốc gia của Nhật Bản, trong đó một cụm gồm 17 khu vực lịch sử đã được công nhận là Di sản văn hóa Thế giới vào năm 1993.
Cổ đô Kyoto và khu vực phụ cận bao phủ một vùng mênh mông hiện tại bao gồm các thành phố Kyoto, Otsu, Uji. Khi tham quan cố đô bạn sẽ khám phá:14 chùa Phật giáo bao gồm chùa Kyogokoku-ji (đền Toji), chùa Kiyomizu-dera, chùa Enryaku, chùa Daigo, chùa Ninna, thiền viện Byodo-in, chùa Kozan, chùa rêu Saiho, chùa Tenryu, chùa Rokuon (chùa vàng Kinkakuji), chùa Jisho (chùa bạc Ginkakuji), chùa Ryoan, chùa Nishi Hongan; 3 đền Thần đạo bao gồm: đền Kamigamo, đền Shimogamo, đền Ujigami; và 1 lâu đài là lâu đài Nijo. Trong đó, nổi bật nhất là chùa Kiyomizu với kiến trúc bằng gỗ trên cao, chùa Kinkakuji được bao phủ bằng những chiếc lá bằng vàng nguyên chất, chùa Ryoanji với khu vườn đá phong cách thiền, và chùa Kozanji nằm sâu trong rừng với những quốc bảo quý nhất của Nhật.
(Nguồn: Sưu tầm)
Hoài Thanh
Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2014
Di sản Saint Petersburg - thủ đô phía Bắc của Nga
Saint Petersburg là cố đô và là thành phố duy nhất trên trái đất được UNESCO đưa vào danh sách Di sản văn hoá thế giới năm 1990 (kỳ thứ 14).
Chỉ hơn ba trăm năm tuổi, Saint Petersburg là một thành phố còn rất trẻ so với châu Âu cổ kính. Với hơn 3.700 di tích lịch sử và văn hoá, đại diện cho nhiều phong cách và trường phái kiến trúc thế giới, Saint Petersburg được công nhận là thành phố du lịch hấp dẫn thứ 8 trên thế giới.
Trải qua nhiều biến động lịch sử, tên thành phố đã bị thay đổi nhiều lần. Đầu tiên, thành phố có tên là Saint Petersburg. Khi chiến tranh thế giới nổ ra, thành phố đổi tên thành Petrograd. Đến năm 1924, thành phố được mang tên Leningrad, để tưởng nhớ công lao Vladimir Ilyich Lenin, nhà lãnh tụ vĩ đại của nước Nga Xô Viết. Năm 1991, sau khi Liên Xô sụp đổ, thành phố trở lại tên ban đầu là Saint Petersburg.
Được đích thân Pie Đại đế cho khởi công xây dựng vào năm 1703, Saint Petersburg toạ lạc trên 42 hòn đảo của châu thổ sông Neva - con sông có lưu lượng nước lớn nhất châu Âu, rộng tới 650m, sâu từ 14 - 23m. Sông Neva có hơn 40 chi lưu và gần 20 kênh đào chằng chịt, được nối liền nhau bằng gần 300 cây cầu cổ kính. Vì thế, Saint Petersburg được mệnh danh là Venice của phương Bắc. Toàn bộ bờ sông Neva dài 150km và các kênh đào đều được lát đá hoa cương.
Trong số những danh lam thắng cảnh của Saint Peterburg, nổi tiếng nhất là khu vực Petergof - nơi có Cung điện Mùa Hè của Sa hoàng, được Pier Đại đế xây dựng vào năm 1710. Tại đây có các lâu đài nguy nga lộng lẫy, các khu rừng xanh ngắt với hơn 10 nghìn cây xanh các loại, các công viên tráng lệ trải dài trên một diện tích rộng hàng trăm héc ta. Đặc biệt, với hệ thống 3 thác nước, 144 đài phun nước muôn hình muôn vẻ, độc nhất vô nhị trên thế giới, Petergof được mệnh danh là “Thủ đô của các đài phun nước”. Đài phun nổi tiếng nhất là Thác nước lớn với 64 vòi phun và 225 tượng trang trí. Nhà mỹ học Xô viết nổi tiếng A.Lunacharski đã gọi Petergof là "Viên ngọc trai của nghệ thuật". Tại đây quy tụ những tác phẩm kiệt xuất của ngành điêu khắc, kiến trúc, hội hoạ, ngành làm vườn và công viên của Nga trong suốt 3 thế kỷ.

Ngoài ra còn có Toà nhà chính trong quần thể kiến trúc Ermitage là Cung điện Mùa Đông tráng lệ và cổ kính. Đây là kiệt tác của kiến trúc sư danh tiếng V.V.Rastrelli, được xây dựng trong khoảng thời gian từ 1754 — 1762. Nội thất bên trong cung điện là những gian phòng theo nhiều phong cách kiến trúc hết sức độc đáo. Năm 1765, dưới triều đại của Nữ hoàng Nga Cathérine đệ nhị, Cung điện Mùa Đông trở thành viện bảo tàng Ermitage, một trong hơn 200 viện bảo tàng của thành phố.
Được ghi vào sách Kỷ lục Guinness là bảo tàng tranh lớn nhất thế giới, Ermitage trưng bày tác phẩm của nhiều danh hoạ Tây Âu và thế giới, thuộc các dân tộc và các thời đại khác nhau như Leonardo da Vinci, Raffaelo, Goya, Matisse, Gauguin, Picasso.... Với 225 bức tranh khi thành lập, Ermitage liên tục được bổ sung những bộ tranh sưu tập lớn như của Bá tước Henrich Bruchl (Dresden), của chủ nhà băng Kros (Paris), của Huân tước Walpole (Lodon), của Hoàng hậu Josephine (Paris)…. Hằng năm, Ermitage thu hút gần 4 triệu lượt người xem.
Saint Petersburg còn có một hiện tượng thiên nhiên kỳ thú là đêm trắng. Chỉ cách Bắc cực 6 độ nên tại đây có những đêm hè, dưới ảnh hưởng của cực quang. Đến nửa đêm ngày 19/6, thành phố St. Petersburg của Nga vẫn sáng rõ như ban ngày. Cả thành phố được bao trùm bởi thứ ánh sáng trắng ngà màu sữa tuyệt đẹp. Vào những đêm trắng huyền ảo đó, người dân thành phố không ngủ, kéo nhau ra đường, tham gia các lễ hội tưng bừng trên đường phố hoặc dạo chơi trên đại lộ Nevski, đến bờ sông Neva vào lúc nửa đêm để ngắm nhìn chiếc cầu Hoàng Cung khổng lồ từ từ tách ra làm đôi, nâng bổng lên hai phía cho tàu bè qua lại…
Ngòai ra, ở Saint Petersburg còn có nhà thờ Thánh Isaac – một bảo tàng kiến trúc nghệ thuật, nhà thờ cao thứ 4 trên thế giới với độ cao từ chân đến đỉnh tháp là 101m và hàng lọat các địa danh du lịch, tĩnh dưỡng như khu Pushkin, Petrostation, Pavlovsk, Zielonogorsk, Siestrorieck, Gatchin…
Hoài Thanh
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




